11 Ta là người chăn hiền-lành; người chăn hiền-lành vì chiên mình phó sự sống mình.12 Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó, nếu thấy muông-sói đến, thì nó bỏ chiên chạy trốn; muông-sói cướp lấy chiên và làm cho tản-lạc.13 Ấy vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo-lắng chi đến chiên.14 Ta là người chăn hiền-lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta,15 cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình.16 Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng nầy; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.17 Nầy, tại sao Cha yêu ta: Ấy vì ta phó sự sống mình, để được lấy lại.18 Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng-lịnh nầy nơi Cha ta.
Psalm
1 Đất và muôn vật trên đất, Thế-gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va.2 Vì Ngài đã lập đất trên các biển, Và đặt nó vững trên các nước lớn.3 Ai sẽ được lên núi Đức Giê-hô-va? Ai sẽ được đứng nổi trong nơi thánh của Ngài?4 Ấy là người có tay trong-sạch và lòng thanh-khiết, Chẳng hướng linh-hồn mình về sự hư-không, Cũng chẳng thề-nguyện giả-dối.5 Người ấy sẽ được phước từ nơi Đức Giê-hô-va, Và sự công-bình từ nơi Đức Chúa Trời về sự cứu-rỗi người.6 Ấy là dòng-dõi của những người tìm-kiếm Đức Giê-hô-va, Tức là những người tìm-kiếm mặt Đức Chúa Trời của Gia-cốp. (Sê-la)7 Hỡi các cửa, hãy cất đầu lên! Hỡi các cửa đời đời, hãy mở cao lên, Thì Vua vinh-hiển sẽ vào.8 Vua vinh-hiển nầy là ai? Ấy là Đức Giê-hô-va có sức-lực và quyền-năng, Đức Giê-hô-va mạnh-dạn trong chiến-trận.9 Hỡi các cửa, hãy cất đầu lên! Hỡi các cửa đời đời, hãy mở cao lên, Thì vua vinh-hiển sẽ vào.10 Vua vinh-hiển nầy là ai? Ấy là Đức Giê-hô-va vạn-quân, Chính Ngài là Vua vinh-hiển. (Sê-la)
Psalm
1 Đất và muôn vật trên đất, Thế-gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giê-hô-va.