David's Mighty Men
| Secondary Keywords | Bỏ trốn David di chúc Kiểm soát men old Samuel Saul thánh thống nhất vua |
|---|---|
| Scriptures | 1 Chronicles1 Lúc ấy, cả Y‑sơ-ra-ên đều nhóm đến cùng Đa-vít tại Hếp-rôn, mà nói rằng: Kìa, chúng tôi vốn là xương thịt của ông. 2 Khi trước dầu Sau-lơ còn cai-trị chúng tôi, thì ông đã dẫn Y‑sơ-ra-ên vào ra; và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông có phán cùng ông rằng: Ngươi sẽ chăn nuôi dân ta là Y‑sơ-ra-ên, làm quan-tướng chúng nó. 3 Ấy vậy, các trưởng-lão Y‑sơ-ra-ên đến cùng vua ở Hếp-rôn; Đa-vít bèn lập giao-ước với chúng tại Hếp-rôn trước mặt Đức Giê-hô-va; đoạn, chúng xức dầu cho Đa-vít làm vua trên Y‑sơ-ra-ên, y như lời của Đức Giê-hô-va đã cậy Sa-mu-ên phán ra vậy. 4 Đa-vít và cả dân Y‑sơ-ra-ên đi lên thành Giê-ru-sa-lem, ấy là Giê-bu; ở đó có người Giê-bu-sít, là dân của xứ. 5 Dân-cư Giê-bu nói cùng Đa-vít rằng: Ngươi sẽ chẳng hề vào đây. Dầu vậy, Đa-vít chiếm-lấy đồn-lũy Si-ôn, ấy là thành Đa-vít. 6 Đa-vít nói rằng: Hễ ai hãm đánh dân Giê-bu-sít trước hết, ắt sẽ được làm trưởng và làm tướng. Vậy, Giô-áp, con trai Xê-ru-gia, đi lên đánh trước hết, nên được làm quan trưởng. 7 Đa-vít ở trong đồn; vậy nên gọi là thành Đa-vít. 8 Người xây tường-thành bốn phía, từ Mi-lô cho đến khắp chung-quanh; còn phần thành dư lại thì Giô-áp sửa-sang. 9 Đa-vít càng ngày càng cường-thạnh; vì Đức Giê-hô-va vạn-quân ở cùng người. 10 Đây là những kẻ làm tướng các lính mạnh-dạn của Đa-vít, và đã phò-giúp người được ngôi nước, cùng với cả Y‑sơ-ra-ên, lập người lên làm vua, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán về Y‑sơ-ra-ên. 11 Nầy là số các lính mạnh-dạn của Đa-vít: Gia-sô-bê-am, con trai của Hác-mô-ni, làm đầu các tướng; ấy là người dùng giáo mình mà giết ba trăm người trong một lượt. 12 Sau người có Ê‑lê-a-sa, con trai của Đô-đô, ở A‑hô‑a, là một người trong ba người mạnh-dạn. 13 Người nầy ở cùng Đa-vít nơi Pha-đa-mim, khi quân Phi-li-tin nhóm lại đặng giao-chiến. Ở đó có một đám ruộng mạch-nha, và dân-sự đều chạy-trốn khỏi mặt dân Phi-li-tin. 14 Còn họ đều đứng trong ruộng binh-vực nó, và đánh hơn dân Phi-li-tin, và Đức Giê-hô-va khiến cho họ đặng sự thắng trận rất lớn. 15 Trong bọn ba mươi người làm tướng, có ba người đi xuống hang đá A‑đu-lam, đến cùng Đa-vít. Còn đạo-quân Phi-li-tin đóng trại tại trong trũng Rê-pha-im. 16 Lúc ấy Đa-vít ở trong đồn, và có phòng binh của dân Phi-li-tin ở Bết-lê-hem. 17 Đa-vít ước ao rằng: Than ôi! chớ gì ai ban cho ta nước uống của giếng bên cửa thành Bết-lê-hem! 18 Vậy, ba người nầy xông ngang qua trại Phi-li-tin múc nước trong giếng bên cửa thành Bết-lê-hem, đem về cho Đa-vít uống; song người chẳng chịu uống, bèn rảy nước ấy ra trước mặt Đức Giê-hô-va, 19 mà nói rằng: Cầu Chúa giữ lấy tôi, đừng để tôi làm sự nầy; tôi hẳn không uống huyết của ba người nầy, đã liều thân mình đặng đem nước đến. Vì cớ ấy nên người không chịu uống. Ấy là công-việc của ba người mạnh-dạn đó đã làm. 20 Lại có A‑bi-sai, em của Giô-áp, làm đầu trong ba người mạnh-dạn; người dùng giáo mình mà giết ba trăm người, nên nổi danh-tiếng trong ba người ấy. 21 Trong ba người mạnh-dạn ấy, người sang-trọng hơn, được làm trưởng của họ, song chẳng bằng ba người trước. 22 Lại có Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa ở Cáp-xê-ên, là một người mạnh-dạn đã làm nhiều công-việc cả-thể; người đã giết hai người Mô-áp mạnh-bạo hơn hết; trong kỳ sa tuyết, người xuống một cái hố giết một con sư-tử. 23 Người cũng đánh giết một người Ê‑díp-tô cao năm thước; người Ê‑díp-tô cầm nơi tay cây giáo lớn bằng trục máy dệt, còn Bê-na-gia xuống đón người, cầm một cây gậy, rút lấy giáo khỏi tay người Ê‑díp-tô, dùng giáo nó mà giết nó. 24 Ấy là công-việc Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đã làm, được nổi danh-tiếng trong ba người mạnh-dạn. 25 Trong ba mươi người mạnh-dạn, người được sang-trọng hơn hết, song chẳng bằng ba người trước. Đa-vít nhận người vào bàn mật-nghị mình. 26 Lại có các người mạnh-dạn trong đạo-binh, là: A‑sa-ên, em của Giô-áp; Ên-ca-nan, con trai của Đô-đô ở Bết-lê-hem; 27 Sa-mốt, người Ha-rôn; Hê-lết, người Pha-lôn; 28 Y‑ra, con trai của Y‑kết ở Thê-kô‑a; A‑bi-ê-xe ở A‑na-tốt; 29 Si-bê-cai ở Hu-sa; Y‑lai ở A‑hô‑a; 30 Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; Hê-lết, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; 31 Y‑tai, con trai Ri-bai ở Ghi-bê‑a, thành của con-cháu Bên-gia-min; Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; 32 Hu-rai ở Na-ha-lê-Ga-ách; A‑bi-ên ở A‑ra-ba; 33 Ách-ma-vết ở Ba-hu-rim; Ê‑li-ác-ba ở Sa-anh-bôn; 34 Bê-ne-ha-sem ở Ghi-xôn; Giô-na-than, con trai Sa-ghê ở Ha-ra; 35 A‑hi-giam, con trai Sa-ca ở Ha-ra; Ê‑li-pha, con trai U‑rơ; 36 Hê-phe ở Mê-kê-ra; A‑hi-gia ở Pha-lôn; 37 Hết-rô ở Cạt-mên; Na-a-rai, con trai E‑bai; 38 Giô-ên em của Na-than; Mi-bê-ha, con trai của Ha-gơ-ri; Xê-léc là người Am-môn; 39 Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh-khí của Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia; 40 Y‑ra ở Giê-the; Ga-rép cũng ở Giê-the; 41 U‑ri người Hê-tít; Xa-bát, con trai Ạc-lai; 42 A‑đi-na, con trai của Si-xa, người Ru-bên, làm trưởng dòng Ru-bên, và có ba mươi binh-chiến ở với người; 43 Ha-nan, con trai của Ma-a-ca; Giô-sa-phát ở Mê-then; 44 U‑xia ở Ách-ta-rốt; Sa-ma và Giê-hi-ên, con trai của Hô-tam ở A‑rô‑e; 45 Giê-đi-a-ên, con trai của Sim-ri; Giô-ha, anh em người dân Thi-sít; 46 Ê‑li-ên ở Ma-ha-vim; Giê-ri-bai và Giô-sa-via, con trai của Ên-na-am; Gít-ma là người Mô-áp; 47 Ê‑li-ên, Ô‑bết, và Gia-a-si-ên, là người Mết-sô-ba. 2 Samuel1 Nầy là lời sau hết của Đa-vít. Nầy lời của Đa-vít, con trai Y‑sai, Tức lời của người đã được nâng lên cao thay, Đấng chịu xức dầu của Đức Chúa Trời Gia-cốp, Và làm kẻ hát êm-dịu của Y‑sơ-ra-ên. 2 Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, Và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta. 3 Đức Chúa Trời của Y‑sơ-ra-ên đã phán, Hòn Đá lớn của Y‑sơ-ra-ên đã phán cùng ta rằng: Người nào cai-trị loài người cách công-bình, Cách kính-sợ Đức Chúa Trời, 4 Thì sẽ giống như sự chói-lòa buổi sáng, khi mặt trời mọc, Khác nào một buổi sớm mai chẳng có mây; Các ánh sáng nó làm cho cây cỏ bởi đất nảy ra sau khi mưa. 5 Nhà ta dầu chẳng phải như vậy trước mặt Đức Chúa Trời, Song Ngài đã lập với ta một giao-ước đời đời, Vững-bền trong mọi sự và chắc-chắn. Vì đó là cả sự cứu-rỗi và cả sự ước-ao ta, Dẫu Ngài không làm cho điều đó nẩy-nở ra. 6 Trái lại, hết thảy kẻ hung-ác đều giống như gai-chông mà người ta liệng ra xa, Không thể lấy bằng tay được; 7 Người ta phải dùng đồ bằng sắt hay là cán cây lao đặng nắm nó. Rồi chính tại chỗ, nó bị thiêu trong lửa. 8 Nầy là tên các người mạnh-bạo đã giúp việc cho Đa-vít: Giô-sép-Ba-sê-bết, người Tách-kê-môn, làm đầu lính thị-vệ của vua. Ấy là người quơ giáo mình cự lại tám trăm người, và giết đi trong một lúc gặp. 9 Sau người ấy, có Ê‑lê-a-sa, con trai của Đô-đô cháu của A‑cô-hi, là một trong ba người mạnh-bạo đã cùng Đa-vít thách dân Phi-li-tin hiệp lại đặng chiến-trận. 10 Khi dân Y‑sơ-ra-ên rút đi, thì Ê‑lê-a-sa chỗi dậy, đánh dân Phi-li-tin cho đến khi tay người tê dính cứng lại nơi gươm người. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y‑sơ-ra-ên được thắng trận cả-thể; chúng chỉ theo sau Ê‑lê-a-sa đặng cướp-bóc kẻ thù-nghịch đó thôi. 11 Sau người ấy có Sa-ma, con trai A‑ghê, người Ha-ra. Dân Phi-li-tin đã hiệp lại thành đoàn-lũ; ở đó có một đồng gieo đầy đậu, và dân-sự đều chạy trốn khỏi trước mặt dân Phi-li-tin. 12 Nhưng Sa-ma đứng ở giữa ruộng, binh-vực nó, và đánh dân Phi-li-tin. Như vậy, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y‑sơ-ra-ên được thắng trận cả-thể. 13 Trong vòng ba mươi quan-tướng, có ba người đi xuống nhằm lúc mùa gặt và đến cùng Đa-vít tại hang-đá A‑đu-lam, trong khi một cơ quân Phi-li-tin đóng trại tại trũng Rê-pha-im. 14 Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn, và ở tại Bết-lê-hem có một đạo-binh hờ của dân Phi-li-tin. 15 Đa-vít ao-ước rằng: Chớ chi ta được uống nước bởi giếng ở bên cửa-thành Bết-lê-hem! 16 Bấy giờ, có ba người quan-tướng đầy lòng gan-dạ, xông ngang qua trại-quân Phi-li-tin, múc nước giếng ở bên cửa-thành Bết-lê-hem, rồi đem về dâng cho Đa-vít; nhưng người từ-chối không uống, bèn rảy nước đó ra làm lễ dâng cho Đức Giê-hô-va, 17 mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Tôi hẳn không uống đâu. Nước nầy khác nào huyết của ba người nầy, liều mạng-sống mình đặng đi đến nơi kia. Vậy người không chịu uống. Đó là sự của ba người tướng mạnh-bạo ấy đã làm. 18 A‑bi-sai em Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, làm tướng của ba người dõng-sĩ; người dùng cây giáo mình đánh chết ba trăm người, và có danh tiếng trong ba người dõng-sĩ ấy. 19 Trong cả ba, A‑bi-sai có danh hơn hết, và người làm đầu họ. Dầu vậy, người không bằng ba người kia. 20 Lại có Bê-na-gia ở Cáp-sê-ên, con trai của Giê-hô-gia-đa, là một người mạnh-bạo, nổi tiếng vì các công lớn của mình. Người đã giết hai người Mô-áp mạnh-bạo hơn hết. Trong một ngày tuyết kia, ấy cũng người nầy đi xuống một cái hầm chứa nước, có con sư-tử, và giết nó đi. 21 Lại người cũng đánh giết một người Ê‑díp-tô, có bộ-tướng đáng sợ-hãi. Người Ê‑díp-tô cầm nơi tay một cây giáo; còn Bê-na-gia cầm một cây gậy xuống đón người. Người rứt cây giáo khỏi tay người Ê‑díp-tô, rồi dùng một cây giáo ấy mà giết hắn đi. 22 Đó là công-việc Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đã làm; người được nổi tiếng trong ba người tướng gan-dạ kia. Trong bọn ba mươi người, Bê-na-gia có danh tiếng hơn; 23 song không bằng ba người trước. Đa-vít nhận người vào trong bàn mật-nghị mình. 24 A‑sa-ên, em Giô-áp, là một người thuộc trong ba mươi người dõng-sĩ kia; cũng có Ên-ca-nan, con trai của Đô-đô, ở Bết-lê-hem; 25 lại có Sa-ma ở Ha-rốt, Ê‑li-ca ở Ha-rốt; 26 Hê-lết ở Phê-lết; Y‑ra, con trai của Y‑ke, ở Tê-cô; 27 A‑bi-ê-xe ở A‑na-tốt; Mê-bô-nai ở Hu-sa; 28 Sanh-môn ở A‑hô‑a; Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; 29 Hê-lép, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; Y‑tai, con trai của Ri-bai ở Ghi-bê‑a, thành của dân Bên-gia-min; 30 Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; Hi-đai ở Na-ha-lê-Ga-ách; 31 A‑bi-Anh-bôn ở A‑ra-ba; Ách-ma-vét ở Bạt-cum; 32 Ê‑li-a-ba ở Sa-bôn; các con trai của Gia-sen, Giô-na-than; 33 Sa-ma ở Ha-ra; A‑ki-am, con trai của Sa-ra, người A‑ra-rít; 34 Ê‑li-phê-lết, con trai của A‑cạt-bai, con trai của một người Ma-ca-thít; Ê‑li-am, con trai của A‑hi-tô-phe ở Ghi-lô; 35 Hết-rai ở Cạt-mên; Pha-rai ở A‑ráp; 36 Di-ganh, con trai của Na-than, ở Xô-ba; Ba-ni ở Ga-đi; 37 Xê-léc, người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh-khí cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia; 38 Y‑ra ở Giê-the; Ga-rép ở Giê-the; 39 U‑ri người Hê-tít: cộng là ba mươi bảy người. |