Tiếng Việt
  •  Afrikaans
  •  Bahasa Indonesia
  •  Bahasa Melayu
  •  Česky
  •  Deutsch
  •  English
  •  Español
  •  Français
  •  Italiano
  •  Magyar
  •  Nederlands
  •  Polski
  •  Português
  •  Română
  •  Shqip
  •  Tagalog
  •  Türkçe
  •  Ελληνικά
  •  Български
  •  русский
  •  Српски / Srpski
  •  Українська
  •  עברית
  •  العربية
  •  فارسی
  •  हिन्दी
  •  ไทย
  •  中文
  •  日本語
  •  粵語
  •  한국어
Tiền tệ VND
  • BRL - Real Braxin
  • EUR - Euro
  • USD - Đô la Mỹ
  • CAD - Đô la Canada
  • MXN - Peso Mexico
  • RUB - Rúp Nga
  • RON - Leu Romania
  • PLN - Zloty Ba Lan
  • SGD - Đô la Singapore
  • CHF - Franc Thụy sĩ
  • TRY - Lia Thổ Nhĩ Kỳ
  • UAH - Hryvnia Ukraina
  • GBP - Bảng Anh
  • JPY - Yên Nhật
  • AUD - Đô la Australia
  • BGN - Lev Bulgaria
  • CZK - Koruna Cộng hòa Séc
  • DKK - Krone Đan Mạch
  • HKD - Đô la Hồng Kông
  • IDR - Rupiah Indonesia
  • HUF - Forint Hungary
  • KRW - Won Hàn Quốc
  • MYR - Ringgit Malaysia
  • CNY - Nhân dân tệ
  • ARS - Peso Argentina
  • ZAR - Rand Nam Phi
  • ALL - Lek Albania
  • PHP - Peso Philipin
  • RSD - Dinar Serbia
  • ILS - Sheqel Israel mới
  • EGP - Bảng Ai Cập
  • SAR - Riyal Ả Rập Xê-út
  • AED - Dirham UAE
  • IRR - Rial Iran
  • AFN - Afghani Afghanistan
  • IQD - Dinar Iraq
  • INR - Rupee Ấn Độ
  • PKR - Rupee Pakistan
  • THB - Bạt Thái Lan
GoodSalt™
Tìm kiếm
Tài khoản
Xe
  • Tài khoản
  • Lightbox
  • Đăng nhập
  • Sign Up
GoodSalt™
Dẫn đầu thế giới về hình ảnh tôn giáo.
Tiền tệ VND
  • BRL - Real Braxin
  • EUR - Euro
  • USD - Đô la Mỹ
  • CAD - Đô la Canada
  • MXN - Peso Mexico
  • RUB - Rúp Nga
  • RON - Leu Romania
  • PLN - Zloty Ba Lan
  • SGD - Đô la Singapore
  • CHF - Franc Thụy sĩ
  • TRY - Lia Thổ Nhĩ Kỳ
  • UAH - Hryvnia Ukraina
  • GBP - Bảng Anh
  • JPY - Yên Nhật
  • AUD - Đô la Australia
  • BGN - Lev Bulgaria
  • CZK - Koruna Cộng hòa Séc
  • DKK - Krone Đan Mạch
  • HKD - Đô la Hồng Kông
  • IDR - Rupiah Indonesia
  • HUF - Forint Hungary
  • KRW - Won Hàn Quốc
  • MYR - Ringgit Malaysia
  • CNY - Nhân dân tệ
  • ARS - Peso Argentina
  • ZAR - Rand Nam Phi
  • ALL - Lek Albania
  • PHP - Peso Philipin
  • RSD - Dinar Serbia
  • ILS - Sheqel Israel mới
  • EGP - Bảng Ai Cập
  • SAR - Riyal Ả Rập Xê-út
  • AED - Dirham UAE
  • IRR - Rial Iran
  • AFN - Afghani Afghanistan
  • IQD - Dinar Iraq
  • INR - Rupee Ấn Độ
  • PKR - Rupee Pakistan
  • THB - Bạt Thái Lan
  Tiếng Việt
  •  Afrikaans
  •  Bahasa Indonesia
  •  Bahasa Melayu
  •  Česky
  •  Deutsch
  •  English
  •  Español
  •  Français
  •  Italiano
  •  Magyar
  •  Nederlands
  •  Polski
  •  Português
  •  Română
  •  Shqip
  •  Tagalog
  •  Türkçe
  •  Ελληνικά
  •  Български
  •  русский
  •  Српски / Srpski
  •  Українська
  •  עברית
  •  العربية
  •  فارسی
  •  हिन्दी
  •  ไทย
  •  中文
  •  日本語
  •  粵語
  •  한국어
Tìm kiếm
Advanced Options ▼
Chuyển đến phần đầu của thư viện hình ảnh
Thanking God for His Help
Chuyển đến phần đầu của thư viện hình ảnh

Thanking God for His Help

Sản phẩm
Image ID
prcas3582
Nghệ sĩ
Providence Collection
Chi tiết hình ảnh
Thêm thông tin
Secondary Keywords Ai Cập   cảm ơn   cũ   di chúc   genesis   Hê-bơ-rơ   help   luật pháp   trốn thoát   xuất hành   Đức Chúa Trời  
Scriptures
Exodus 12   Exodus 14:15-15   Exodus 15   Genesis 4:1-12   Psalms 100  

Exodus

1 Tại xứ Ê‑díp-tô, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A‑rôn rằng: 2 Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng giêng trong quanh năm. 3 Hãy nói cho toàn hội-chúng Y‑sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia-trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một con chiên con. 4 Nếu nhà ít người quá ăn không hết một chiên con, hãy chung cùng người rất lân-cận mình, tùy theo số người; và hãy tính cho mỗi chiên con tùy sức người ăn hết. 5 Các ngươi hãy bắt hoặc trong bầy chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đực hay là dê con đực, tuổi giáp-niên, chẳng tì-vít chi, 6 đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội-chúng Y‑sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối. 7 Họ sẽ lấy huyết đem bôi trên hai cây cột và mày cửa của nhà nào ăn thịt chiên con đó. 8 Đêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng. 9 Chớ ăn thịt nửa chín nửa sống hay là luộc trong nước, nhưng phải quay trên lửa cả và đầu, giò, với bộ lòng. 10 Các ngươi chớ để chi còn lại đến sáng mai; nếu còn lại, hãy thiêu đi. 11 Vậy, ăn thịt đó, phải như vầy: Dây lưng cột, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối-hả; ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va. 12 Đêm đó ta sẽ đi qua xứ Ê‑díp-tô, hành-hại mọi con đầu lòng xứ Ê‑díp-tô, từ người ta cho đến súc-vật; ta sẽ xét-đoán các thần của xứ Ê‑díp-tô; ta là Đức Giê-hô-va. 13 Huyết bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu-hiệu; khi ta hành-hại xứ Ê‑díp-tô, thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai-nạn hủy-diệt các ngươi. 14 Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ-niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời. 15 Trong bảy ngày phải ăn bánh không men: vừa đến ngày thứ nhứt, hãy dẹp men khỏi nhà đi; vì hễ ai ăn bánh có men từ ngày thứ nhứt cho đến ngày thứ bảy, thì sẽ bị truất ra khỏi Y‑sơ-ra-ên. 16 Ngày thứ nhứt, sẽ có một sự nhóm-hiệp thánh; qua ngày thứ bảy các ngươi cũng sẽ có một sự nhóm-hiệp thánh nữa. Trong mấy ngày đó chẳng nên làm công-việc chi, chỉ lo sắm đồ-ăn cho mỗi người cần ăn mà thôi. 17 Vậy, các ngươi hãy giữ lễ bánh không men, vì chánh ngày đó ta rút quân-đội các ngươi ra khỏi xứ Ê‑díp-tô; nên chi, trải các đời phải giữ ngày đó như một lễ lập ra đời đời. 18 Ngày mười bốn tháng giêng, chiều lại, các ngươi sẽ ăn bánh không men cho đến chiều ngày hai mươi mốt tháng đó. 19 Trong bảy ngày không nên còn thấy men tại nhà các ngươi; vì bất luận người ngoại-bang hay là người bổn-xứ, hễ ai ăn bánh có men sẽ bị truất khỏi hội-chúng Y‑sơ-ra-ên. 20 Chớ nên ăn bánh có men; khắp nơi các ngươi ở đều phải ăn bánh không men. 21 Vậy, Môi-se nhóm lại các trưởng-lão Y‑sơ-ra-ên mà nói rằng: Hãy đi bắt một con trong bầy cho mọi nhà các ngươi, và giết nó làm lễ Vượt-qua. 22 Rồi hãy lấy một chùm kinh-giới nhúng vào huyết trong chậu, bôi lên mày và hai cây cột cửa, đoạn, trong các ngươi chớ ai ra khỏi cửa nhà mình cho đến sáng mai. 23 Đức Giê-hô-va sẽ đi qua đặng hành-hại xứ Ê‑díp-tô; khi thấy huyết nơi mày và hai cây cột cửa, Ngài sẽ vượt qua, không cho kẻ tiêu-diệt vào nhà các ngươi đặng hành-hại. 24 Hãy giữ lễ nầy như một lệ lập ra đời đời cho các ngươi và con cháu các ngươi. 25 Khi nào các ngươi vào xứ mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho, như lời Ngài đã phán, thì hãy giữ lễ nầy. 26 Khi con cháu các ngươi hỏi rằng: Lễ nầy là nghĩa chi? 27 Hãy đáp rằng: Ấy là của tế-lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va, vì khi Ngài hành-hại xứ Ê‑díp-tô thì Ngài đi vượt qua các nhà dân Y‑sơ-ra-ên, và cứu nhà chúng ta đó. 28 Dân Y‑sơ-ra-ên bèn cúi đầu lạy, rồi đi, làm theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se và A‑rôn. 29 Vả, khi giữa đêm, Đức Giê-hô-va hành-hại mọi con đầu lòng tại xứ Ê‑díp-tô, từ thái-tử của Pha-ra-ôn ngồi trên ngai mình, cho đến con cả người bị tù, và hết thảy con đầu lòng của súc-vật. 30 Đương lúc ban đêm, Pha-ra-ôn, quần-thần cùng hết thảy người Ê‑díp-tô đều chờ dậy; có tiếng kêu la inh-ỏi trong xứ Ê‑díp-tô, vì chẳng một nhà nào là không có người chết. 31 Trong đêm đó, Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A‑rôn mà phán rằng: Hai ngươi và dân Y‑sơ-ra-ên hãy chờ dậy, ra khỏi giữa vòng dân ta mà đi hầu việc Đức Giê-hô-va, như các ngươi đã nói. 32 Cũng hãy dẫn bò và chiên đi, như lời các ngươi đã nói, và cầu phước cho ta nữa. 33 Người Ê‑díp-tô thúc-giục dân Y‑sơ-ra-ên ra khỏi xứ mau-mau, vì nói rằng: Chúng ta đều chết hết! 34 Vậy, dân-sự đều đem bột nhồi rồi chưa men đi, và bọc những thùng nhồi bột trong áo tơi vác lên vai mình. 35 Vả, dân Y‑sơ-ra-ên có làm y theo lời Môi-se đã dặn, xin người Ê‑díp-tô những đồ bằng bạc và bằng vàng cùng áo-xống. 36 Đức Giê-hô-va làm cho dân-sự được ơn trước mắt người Ê‑díp-tô, nên họ bằng lòng cho; và dân Y‑sơ-ra-ên lột trần người Ê‑díp-tô vậy. 37 Dân Y‑sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt, số không kể con nít, được chừng sáu mươi vạn người đàn-ông đi bộ. 38 Lại có vô-số người ngoại-bang đi lên chung, luôn với chiên, bò, súc-vật rất nhiều. 39 Chúng bèn hấp bánh không men bằng bột của mình đã đem theo từ xứ Ê‑díp-tô; bột không men, vì cớ bị đuổi khỏi xứ Ê‑díp-tô không thế chậm-trễ, và cũng chẳng sắm kịp lương-thực chi được. 40 Vả, thì kiều-ngụ của dân Y‑sơ-ra-ên tại xứ Ê‑díp-tô được bốn trăm ba mươi năm. 41 Khi mãn bốn trăm ba mươi năm rồi, thì, cũng trong ngày đó, các quân-đội của Đức Giê-hô-va ra khỏi xứ Ê‑díp-tô. 42 Ấy là một đêm người ta phải giữ cho Đức Giê-hô-va, vì Ngài rút dân Y‑sơ-ra-ên khỏi xứ Ê‑díp-tô. Trải các đời, cả dân Y‑sơ-ra-ên phải giữ đêm đó, để tôn-trọng Đức Giê-hô-va. 43 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A‑rôn rằng: Đây là luật-lệ về lễ Vượt-qua: Phàm người ngoại-bang chẳng được ăn lễ đó. 44 Còn về phần kẻ tôi-mọi, là người bỏ tiền ra mua, ngươi hãy làm phép cắt-bì cho, thì họ mới được ăn. 45 Khách ngoại-bang và kẻ làm thuê cũng chẳng được phép ăn lễ đâu. 46 Lễ đó chỉ ăn nội trong nhà; ngươi đừng đem thịt ra ngoài, và cũng đừng làm gãy một cái xương nào. 47 Hết thảy hội-chúng Y‑sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt-qua. 48 Khi một khách ngoại-bang nào kiều-ngụ nhà ngươi, muốn giữ lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải chịu phép cắt-bì; đoạn, họ mới được đến gần giữ lễ nầy, và được coi như người sanh trong xứ. Nhưng ai không chịu phép cắt-bì, thì chẳng được ăn đâu. 49 Cũng đồng một luật cho người sanh trong xứ cùng khách ngoại-bang nào đến kiều-ngụ giữa các ngươi. 50 Toàn dân Y‑sơ-ra-ên đều làm như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se và A‑rôn. Cũng trong ngày đó, Đức Giê-hô-va rút dân Y‑sơ-ra-ên, tùy theo quân-đội, ra khỏi xứ Ê‑díp-tô.

Exodus

15 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Sao ngươi kêu-van ta? Hãy bảo dân Y‑sơ-ra-ên cứ đi;

Exodus

1 Đoạn, Môi-se và dân Y‑sơ-ra-ên hát bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca-tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh-hiển oai-nghiêm. Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa. 2 Đức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca-tụng của tôi: Ngài đã trở nên Đấng cứu tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi ngợi-khen Ngài; Đức Chúa Trời của tổ-phụ tôi, tôi tôn-kính Ngài. 3 Đức Giê-hô-va là một chiến-sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va. 4 Ngài đã ném xuống biển binh-xa Pha-ra-ôn và cả đạo binh của người; Quan-tướng kén-chọn của người đã bị đắm nơi Biển-đỏ, 5 Những lượn sóng đã vùi-lấp họ rồi; Họ chìm đến đáy biển như một hòn đá vậy. 6 Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài có sức mạnh vinh-hiển thay. Hỡi Đức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài hủy quân-nghịch tan đi. 7 Bởi sự cả-thể của oai-nghiêm Ngài, Đánh đổ kẻ dấy nghịch cùng mình. Ngài nổi giận phừng-phừng, Đốt họ cháy như rơm rạ. 8 Lỗ mũi Ngài thở hơi ra, nước bèn dồn lại, Lượn sóng đổ dựng như một bờ đê; Vực sâu đọng lại nơi rún biển. 9 Quân-nghịch rằng: Ta đuổi theo, ta sẽ đuổi kịp, Ta sẽ chia phân của giặc; Tâm-hồn ta sẽ thỏa-nguyện nơi họ; Ta rút gươm ra, tay ta hủy-diệt họ. 10 Ngài đã thở hơi ra, Biển vùi-lấp quân-nghịch lại; Họ bị chìm như cục chì Nơi đáy nước sâu. 11 Hỡi Đức Giê-hô-va! trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh-khiết, ai được vinh-hiển như Ngài, Đáng sợ, đáng khen, Hay làm các phép lạ? 12 Ngài đã đưa tay hữu ra, Đất đã nuốt chúng nó. 13 Ngài lấy lòng thương-xót dìu-dắt Dân nầy mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng năng-lực đưa nó Về nơi ở thánh của Ngài 14 Các dân-tộc nghe biết việc nầy đều run-sợ, Cơn kinh-hãi áp-hãm dân xứ Pha-lê-tin. 15 Các quan-trưởng xứ Ê‑đôm bèn lấy làm bối-rối; Mấy mặt anh-hùng nơi Mô-áp đều kinh-hồn; Cả dân Ca-na-an đều mất vía 16 Sự hoảng-hốt kinh-hãi giáng cho chúng nó; Hỡi Đức Giê-hô-va! vì quyền cao nơi cánh tay Ngài, Chúng nó đều bị câm như đá, Cho đến chừng nào dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài đã chuộc, vượt qua rồi. 17 Hỡi Đức Giê-hô-va! Ngài đưa dân ấy vào, và lập nơi núi cơ-nghiệp Ngài, Tức là chốn Ngài đã sắm-sẵn, để làm nơi ở của Ngài, Hỡi Chúa! là đền-thánh mà tay Ngài đã lập. 18 Đức Giê-hô-va sẽ cai-trị đời-đời kiếp-kiếp. 19 Vì ngựa của Pha-ra-ôn, binh-xa, cùng lính-kỵ người đã xuống biển; Và Đức Giê-hô-va đã vùi-dập nước biển lên trên, Nhưng dân Y‑sơ-ra-ên đi giữa biển như đi trên đất cạn. 20 Nữ tiên-tri Mi-ri-am, là chị của A‑rôn, tay cầm trống cơm, các đàn-bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa. 21 Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca-tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh-hiển oai-nghiêm; Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa. 22 Đoạn, Môi-se đem dân Y‑sơ-ra-ên đi khỏi Biển-đỏ, đến nơi đồng vắng Su-rơ; trọn ba ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu cả. 23 Kế đến đất Ma-ra, nhưng vì nước tại đó đắng, uống chẳng được, nên chi chỗ nầy gọi là Ma-ra. 24 Dân-sự bèn oán-trách Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi uống? 25 Môi-se kêu-van Đức Giê-hô-va; Ngài bèn chỉ cho người một cây gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt. Ấy tại đó, Đức Giê-hô-va định luật-lệ cùng lập pháp-độ cho dân-sự, và tại đó Ngài thử họ. 26 Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm-chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay-thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều-răn và giữ mọi luật-lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê‑díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi. 27 Đoạn, dân-sự đến đất Ê‑lim; nơi đó có mười hai suối nước, và bảy mươi cây chà-là; dân-sự đóng trại tại đó, gần bên suối nước.

Genesis

1 A‑đam ăn‑ở với Ê‑va, là vợ mình; người thọ-thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Đức Giê-hô-va giúp-đỡ, tôi mới sanh được một người. 2 Ê‑va lại sanh em Ca-in, là A‑bên; A‑bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng. 3 Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ-sản làm của-lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. 4 A‑bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A‑bên và nhận lễ-vật của người; 5 nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ-vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt. 6 Đức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? 7 Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội-lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản-trị nó. 8 Ca-in thuật lại cùng A‑bên là em mình. Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A‑bên là em mình, và giết đi. 9 Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A‑bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao? 10 Đức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã làm điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta. 11 Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa-sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra. 12 Khi ngươi trồng-tỉa, đất chẳng sanh hoa-lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ lưu-lạc và trốn-tránh trên mặt đất.

Psalm

1 Hỡi cả trái đất, Hãy cất tiếng reo-mừng cho Đức Giê-hô-va! 2 Khá hầu-việc Đức Giê-hô-va cách vui-mừng, Hãy hát-xướng mà đến trước mặt Ngài. 3 Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng-nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài; Chúng tôi là dân-sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài. 4 Hãy cảm-tạ mà vào các cửa Ngài, Hãy ngợi-khen mà vào hành-lang Ngài, Khá cảm-tạ Ngài, chúc-tụng danh của Ngài. 5 Vì Đức Giê-hô-va là thiện; sự nhân-từ Ngài hằng có mãi mãi, Và sự thành-tín Ngài còn đến đời đời.

Kích thước tệp tối đa
Width
3011
Height
4000
103.965,98 ₫
Special Galleries
Good Soil Print Gallery
GoodSalt Gallery
Nature Photography Gallery
Steve Creitz Select
Seasonal
Harry Anderson Select

Chúng tôi cung cấp chiết khấu cấp phép số lượng lớn quan trọng.
Bạn có thắc mắc? Gọi 800-805-8001 or +1 208-455-5659 và yêu cầu báo giá tùy chỉnh. Chúng tôi sẽ làm việc với ngân sách của bạn.

Post To Feed Pin It
Hộp đèn
Hình ảnh liên quan
  1. Elohim, Đức Chúa Trời Hằng Hữu
  2. Ách nô lệ Ai Cập
  3. Elohim - Danh của Đức Chúa Trời
  4. Cuộc di cư
  5. Cuộn sách cổ
  6. The Mediator
  7. Miriam, Aaron, Hài Nhi Môi-se nơi Ngưỡng Cửa
  8. Exiled
  • Thông tin giấy phép
  • Quyền riêng tư
  • Liên hệ với chúng tôi
  • Nghệ sĩ
1 800 805.8001
© 2026       Tất cả hình ảnh và phương tiện thuộc bản quyền của GoodSalt, Inc. và/hoặc những người đóng góp. Đã đăng ký Bản quyền.
  Tiếng Việt
  •  Afrikaans
  •  Bahasa Indonesia
  •  Bahasa Melayu
  •  Česky
  •  Deutsch
  •  English
  •  Español
  •  Français
  •  Italiano
  •  Magyar
  •  Nederlands
  •  Polski
  •  Português
  •  Română
  •  Shqip
  •  Tagalog
  •  Türkçe
  •  Ελληνικά
  •  Български
  •  русский
  •  Српски / Srpski
  •  Українська
  •  עברית
  •  العربية
  •  فارسی
  •  हिन्दी
  •  ไทย
  •  中文
  •  日本語
  •  粵語
  •  한국어