Welcome to New Jerusalem
| Từ khoá | earth Giê-ru-sa-lem heaven immanuel Jesus king mới trái đất new saved Si-ôn thiên đường trắng áo choàng trên trời |
|---|---|
| Secondary Keywords | áo choàng cầu vồng cây children christ crown cứu chuộc future glorious glory gold hân hoan happiness happy holy hứa đất joy joyful joyous jubilant light lord magnificence majestic messiah mừng quýnh promise prophecy robe savior sư tử thiên thần tình yêu white woman women đất đẹp động vật đường phố Rainbow |
| Scriptures | Revelation1 Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ nhứt trong bảy ấn, thì tôi thấy một con trong bốn con sinh-vật nói tiếng như sấm rằng: Hãy đến! 2 Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa bạch. Người cỡi ngựa có một cái cung; có kẻ ban cho người một cái mão triều-thiên, và người đi như kẻ đã thắng lại đến đâu cũng thắng. 3 Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì, tôi nghe con sinh-vật thứ nhì nói: Hãy đến! 4 Liền có con ngựa khác sắc hồng hiện ra. Kẻ ngồi trên ngựa được quyền cất lấy cuộc hòa-bình khỏi thế-gian, hầu cho người ta giết lẫn nhau; và có kẻ ban cho người một thanh gươm lớn. 5 Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe con sinh-vật thứ ba nói: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa ô. Kẻ ngồi trên ngựa tay cầm cái cân. 6 Tôi lại nghe ở giữa bốn con sinh-vật như có tiếng nói rằng: Một đấu lúa mì bán một đơ-ni‑ê, ba đấu mạch nha bán một đơ-ni‑ê, còn dầu và rượu chớ động đến. 7 Khi Chiên Con mở ấn thứ tư, tôi nghe con sinh-vật thứ tư nói: Hãy đến! 8 Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa vàng-vàng hiện ra. Người cưỡi ngựa ấy tên là Sự chết, và Âm-phủ theo sau người. Họ được quyền trên một góc tư thế-gian, đặng sát-hại dân-sự bằng gươm-dao, bằng đói-kém, bằng dịch-lệ và bằng các loài thú dữ trên đất. 9 Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn-thờ có những linh-hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm. 10 Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân-thật, Chúa trì-hoãn xét-đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào? 11 Có kẻ bèn cho họ mỗi người một cái áo trắng dài; và có lời phán rằng phải ở yên ít lâu nữa, cho đến khi được đủ số người cùng làm việc và anh em mình phải bị giết như mình vậy. 12 Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, thì có một cơn động-đất lớn; mặt trời bèn trở nên tối-tăm như túi lông đen, cả mặt trăng trở nên như huyết. 13 Các vì sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung-lay rụng xuống. 14 Trời bị dời đi như quyển sách cuốn tròn, và hết thảy các núi các đảo bị quăng ra khỏi chỗ mình; 15 các vua ở trên đất, các quan lớn, các tướng-quân, các kẻ giàu, các kẻ quyền-thế, các kẻ tôi-mọi, các người tự-chủ đều ẩn mình trong hang hố cùng hòn đá lớn trên núi, 16 chúng nói với núi và đá lớn rằng: Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! 17 Vì ngày thạnh-nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi? Revelation1 Sau việc ấy, tôi thấy bốn vị thiên-sứ đứng ở bốn góc đất, cầm bốn hướng gió lại, hầu cho không gió nào thổi trên đất, trên biển, hay là trên cây nào. 2 Tôi lại thấy một vị thiên-sứ khác, từ phía mặt trời mọc mà lên, cầm ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Người cả tiếng kêu bốn vị thiên-sứ đã được quyền làm hại đất cùng biển, 3 và bảo rằng: Chớ làm hại đất, biển và cây-cối, cho đến chừng nào chúng ta đã đóng ấn trên trán những tôi-tớ Đức Chúa Trời chúng ta. 4 Tôi lại nghe số người được đóng ấn là: Mười bốn vạn bốn ngàn người được đóng ấn từ trong các chi-phái dân Y‑sơ-ra-ên; 5 Trong chi-phái Giu-đa, một vạn hai ngàn người được đóng ấn; Trong chi-phái Ru-bên, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Gát, một vạn hai ngàn; 6 Trong chi-phái A‑se, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Nép-ta-li, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Ma-na-se, một vạn hai ngàn; 7 Trong chi-phái Si-mê-ôn, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Lê-vi, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Y‑sa-ca, một vạn hai ngàn; 8 Trong chi-phái Sa-bu-lôn, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Giô-sép, một vạn hai ngàn; Trong chi-phái Bên-gia-min một vạn hai ngàn đều được đóng ấn. 9 Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô-số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi-phái, mọi dân-tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà-là, 10 cất tiếng lớn kêu rằng: Sự cứu-rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về Chiên Con. 11 Vả, hết thảy thiên-sứ đứng vòng chung quanh ngôi và chung quanh các trưởng-lão cùng bốn con sinh-vật, sấp mặt xuống trước ngôi, và thờ-lạy Đức Chúa Trời, 12 mà rằng: A‑men! Sự ngợi-khen, vinh-hiển, khôn-ngoan, chúc-tạ, tôn-quí, quyền-phép và sức-mạnh đều về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời vô cùng! A‑men. 13 Bấy giờ một trưởng-lão cất tiếng nói với tôi rằng: Những kẻ mặc áo dài trắng đó là ai, và bởi đâu mà đến? 14 Tôi thưa rằng: Lạy chúa, chúa biết điều đó. Người lại phán cùng tôi rằng: Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại-nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con. 15 Ấy vì đó mà chúng được ở trước ngôi Đức Chúa Trời, và ngày đêm hầu việc Ngài trong đền Ngài; còn Đấng ngồi trên ngôi sẽ che chở chúng dưới trại Ngài. 16 Chúng sẽ không đói, không khát nữa; cũng không có mặt trời, hoặc cơn nắng gắt nào hại đến mình. 17 Vì Chiên Con ở giữa ngôi sẽ chăn-giữ và đưa chúng đến những suối nước sống; Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt nơi mắt chúng. |